Thiền viện Trúc Lâm

2013-11-30
Thiền viện Trúc Lâm (chùa Lân, chùa Long Động) nằm trên đường vào khu danh thắng Yên Tử. Thiền viện được Hòa thượng Thích Thanh Từ cho khởi dựng ngày 15.8.2002, khánh thành ngày 14.12.2002. Đây là nơi trước kia Phật hoàng Trần Nhân Tông làm nơi giảng đạo. Ngày 16.4.2005, trước sân Thiền viện có đặt Quả cầu Như ý Báo ân Phật.


Mặt tiền Thiền Viện


Cây đại cổ thụ Thiền viện Trúc Lâm (chùa Lân)


Toàn cảnh Thiền viện Trúc Lâm (chùa Lân)


Một góc Thiền viện Trúc Lâm


Bàn thờ Trúc Lâm tam tổ Thiền viện Trúc Lâm

TRÚC LÂM TAM TỔ

ĐỆ NHẤT TỔ TRẦN NHÂN TÔNG (1258 – 1308)

Vua Trần Nhân Tông tên là Trần Khâm, sinh ngày 11 – 11 năm Mậu Ngọ (1258), con đầu vua Trần Thánh Tông. Năm 1274 (16 tuổi) được phong Hoàng Thái tử. Năm 1279, Trần Khâm lên ngôi. Sự nghiệp của Trần Nhân Tông cực kỳ hiển hách, văn võ song toàn. Người đã lãnh đạo quân dân chiến thắng quân Nguyên – Mông hai lần liên tiếp: năm Ất Dậu (1285) và Mậu Tý (1288). Năm 1293, Nhân Tông truyền ngôi cho con và lên làm Thái Thượng hoàng. Năm 1299, Nhân Tông vào Yên Tử xuất gia, xưng hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà. Năm 1301, Nhân Tông qua thăm Chiêm Thành, hứa gả Công chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Năm 1304, Nhân Tông gặp Đồng Kiên Cương ở Nam Sách. Cuối năm 1304, vua Anh Tông thỉnh Nhân Tông vào Đại nội và xin thọ giới Bồ tát tại gia. Năm 1308, Nhân Tông giảng Truyền đăng lục riêng cho Pháp Loa. Nhân Tông mất năm 1308.

ĐỆ NHỊ TỔ PHÁP LOA(1284 – 1330)

Thiền sư Pháp Loa tên là Đồng Kiên Cương, sinh năm Giáp Thân (1284), quê ở Nam Sách, Hải Dương, con ông Đồng Thuần Mậu và bà Vũ Từ Cứu. Năm 1304, Kiên Cương gặp Nhân Tông và xin xuất gia. Năm 1305, Kiên Cương được thọ giới Tỳ kheo và được cho pháp hiệu là Pháp Loa. Năm 1308, tại chùa Báo Ân ở Siêu Loại, Thiền sư được truyền pháp y, 200 bộ kinh điển. Năm 1313, ông định chức cho tăng ni toàn quốc tại chùa Vĩnh Nghiêm (Lạng Giang) và lập sổ bộ. Thiền sư mất năm 1330.

ĐỆ TAM TỔ HUYỀN QUANG(1254 – 1334)

Thiền sư tên là Lý Đạo Tái (có sách ghi Lý Tải Đạo), sinh năm Giáp Dần (1254), quê ở Bắc Giang. Năm 1275, ông thi đỗ Trạng nguyên và làm quan trong triều. Năm 1305, khi đã 51 tuổi, ông dâng sớ từ quan. Ông xuất gia tại chùa Vũ Ninh năm 1306. Khi Nhân Tông viên tịch, ông đi theo Pháp Loa học đạo và hành đạo tại chùa Vân Yên, Yên Tử. Năm 1330, Thiền sư được Pháp Loa truyền nhiệm vụ lãnh đạo Phật giáo, lúc 77 tuổi. Ông đã đề cử Quốc sư An Tâm trú trì chùa Vân Yên để về tu ở chùa Tư Phúc, Côn Sơn và mất ở đấy năm 1334.

Trước sân Thiền viện có đặt một Quả cầu Như ý Báo ân Phật. Đây là quả cầu ngọc, nguyên liệu đá quý trong nước, lớn và đẹp nhất Việt Nam hiện nay. Quả cầu Như Ý theo giáo điển Phật giáo, là biểu tượng của bổn tâm với các đặc tính sáng suốt, tròn đầy, tịch chiếu và vô giá không có gì sánh bằng. Nguyên liệu để chế tác lên quả cầu như ý này là một khối đá hoa cương đỏ (Rubi) tại mỏ đá An Nhơn do ông Huỳnh Văn Phúc ở Quy Nhơn tìm ra.

Theo thẩm định của giới chuyên môn, khối đá này thuộc loại đá già granit, màu đỏ rubi, chỉ có ở bắc Ấn Độ và Trung Bộ Việt Nam. Loại đá này không bị phai màu bởi tác động của môi trường thiên nhiên.Việc chế tác quả cầu đá do tập thể cán bộ và nhân viên công ty TNHH Hà Quang miệt mài thi công gần hai năm mới hoàn thành. Toàn bộ công trình bao gồm quả cầu đá với đường kính 1.590mm, trọng lượng 6,5 tấn đặt trên bệ đá có tiết diện vuông nặng 4 tấn. Tất cả được đặt trong bể nước hình bác giác với 8 bồn hình cánh hoa bao quanh, tám vòi nước tưới xung quanh quả cầu với ý nghĩa "Bát công đức thuỷ, tưới mát nhân gian thấm nhuần giáo lý Phật đà, vô ngã, vị tha".

Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử tọa lạc tại khu danh thắng Yên Tử,xã Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, sở hữu kỷ lục: Quả cầu Như ý lớn nhất.

Lễ hội Yên Tử bắt đầu ngày 10 tháng giêng (âm lịch) kéo dài đến hết tháng ba. 

Ca dao có câu:

Trăm năm tích đức tu hành

Chưa đi Yên Tử, chưa thành quả tu.