Tiểu Sử Tổ Phi Lai hiệu Chí Thiền (1861 - 1933)

2014-03-18 3,044

Nhân dịp lễ giỗ Tổ Phi Lai hiệu Chí Thiền (1861 - 1933), do HT. Thích Thiện Nhơn-Phó Chủ Tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký HĐTS T.Ư GHPGVN cùng sơn môn pháp phái tổ chức giỗ Tổ vào ngày 15 tháng 02 năm Quý Tỵ tại Chùa Minh Đạo, P9, Q3, TP. HCM. Môn đồ pháp quyến xin giới thiệu đôi nét về tiểu sử Tổ Phi Lai thuộc dòng thiền Lâm Tế Gia Phổ, Pháp húy Như Hiển, hiệu Chí Thiền, Nguyễn Công Hòa thượng Tổ sư.

TIỂU SỬ TỔ PHI LAI HIỆU CHÍ THIỀN

TỔ PHI LAI HIỆU CHÍ THIỀN (1861 - 1933)

Tổ Phi Lai thế danh Nguyễn Văn Hiển, húy Như Hiển, hiệu Chí Thiền, sinh tháng hai năm Tân Dậu (1861) tại xã Diêm Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ông Nội là Hộ Quốc Công Nguyễn Công Thành, triều vua Tự Đức. Thân phụ làm đến chức Tổng trấn Quảng Nam.

Năm 1878, khi Ngài 18 tuổi, sắc chỉ triều đình bổ nhiệm làm quan Hậu bổ hạt Khánh Hòa. Vì liên luỵ đến phong trào Văn Thân Cần Vương, Ngài lánh nạn vào Nam sinh sống.

Năm Tân Tỵ (1881), Ngài tỏ ngộ lý vô thường, đến xin quy y xuất gia với Tổ Minh Khiêm – Hoằng Ân, trụ trì chùa Giác Viên, Giác Lâm Gia Định, được Tổ ban Pháp húy Như Hiển, hiệu Chí Thiền, nối pháp dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 39.

Sau khi xuất gia học đạo, Ngài phát tâm làm công quả xe đất cho chùa ba năm. Sau đó, Ngài phát nguyện nhập thất ba năm.

Sau khi ra thất, Ngài cùng Bổn sư khởi công xây dựng chùa Giác Sơn, quận 11, Chợ Lớn. Khi công trình hoàn thành, Hòa thượng được Bổn sư công cử giữ chức Trụ trì.

Năm Kỷ Tỵ (1899), Bổn sư viên tịch, Hòa thượng phải đảm nhiệm trụ trì chùa Giác Viên một thời gian.

Năm Giáp Thìn (1904), một trận lụt khủng hiếp tàn phá miền Tây, nặng nhất là tỉnh Gò Công, Hòa thượng đã tích cực công tác cứu tế, từ thiện xã hội trong cơn nguy biến. Cứu vớt trên 500 người, mai táng xác nạn nhân trên 500 người và sau đó tổ chức Đại lễ Kỳ siêu 03 ngày cho những nạn nhân xấu số do thiên tai gây ra.

Rằm tháng 12 năm Giáp Thìn, Ngài trở về quê lo tang chay cho Thân mẫu, đến mãn chung thất Ngài mới trở lại chùa. Khi sắp xếp lại công việc chùa xong, Ngài từ giã huynh đệ và đến Núi Sam, Châu Đốc tịnh tu. Khi sang đến kinh Vĩnh Tế, Ngài được ông Năm Thanh đưa lên chùa Phi Lai lễ Phật, rồi đi thẳng vào núi tịnh tu.

Sau khi đưa Hòa thượng lên chùa Phi Lai Lễ Phật xong, ông Năm Thanh mời họp các hương chức và Phật tử địa phương để hiến cúng chùa Phi Lai và cung thỉnh Hòa thượng về trụ trì lo Phật sự.

Năm Đinh Mùi (1907), một tai nạn bịnh dịch trầm trọng hoành hành trong vùng, Hòa thượng đã lập Đàn Dược Sư và cùng dân chúng cầu nguyện trong suốt 49 ngày. Hòa thượng đã tận tâm cứu chữa dân chúng qua cơn đại nạn, từ đó, Ngài tạo được ảnh hưởng và ân đức khắp vùng cũng như một số tỉnh lân cận của nước bạn, nên được Sãi cả chùa Tà Lạp Cambodge tặng Phật vàng để tôn thờ.

Năm 1915, 1925, Ngài làm đàn đầu Hòa thượng truyền trao giới pháp cho các giới tử tại chùa Phi Lai do Hòa thượng trụ trì.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Hòa thượng Lê Khánh Hòa, chủ xướng phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, xóa nạn thất học Phật pháp cho Tăng Ni, bài trừ mê tín dị đoan, phát huy chánh tín, chánh lý trong giới Tăng Ni, Phật tử, ngoài lớp gia giáo Phật học tại chùa Giác Hoa - Bạc Liêu dành cho chư Ni, tại chùa Phi Lai, Hòa thượng đã tổ chức định kỳ các lớp học gia giáo dành cho chư Tăng các tỉnh lân cận dự học, dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng cùng Quý Hòa thượng Khánh Anh, HT. Huệ Quang, HT. Pháp Hải, HT. Diệu Pháp, HT. Chánh Tâm, HT. Tâm Quang, HT. Vạn An…

Năm Đinh Mão (1927), Ngài chứng minh Lễ khai giảng Trường Sơ học Phật pháp đầu tiên của Ni giới tại chùa Giác Hoa, Bạc Liêu và truyền trao giới pháp cho Ni chúng nhân mùa An cư kiết hạ.

Năm Kỷ Tỵ (1929), Ngài đã thân lâm chứng minh Đại giới đàn tại chùa Trùng Khánh, Phan Rang, do HT. Chơn Niệm làm Trưởng ban Kiến Đàn.

Trong phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, do Tổ Khánh Hòa đề xướng, năm Nhâm Thân (1931), khi Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học được thành lập, do Hòa thượng Khánh Hòa làm Hội trưởng, trụ sở đặt tại chùa Linh Sơn, Sài gòn, Hòa thượng là một thành viên Chứng minh Đạo sư của Hội và Hòa thượng đã nỗ lực vận động tài chánh ủng hộ 100 đồng tiền Đông Dương cho các hoạt động Phật sự trọng đại của Hội, công việc nầy được Hòa thượng tiếp tục cho đến ngày về cõi Phật.

Năm 1932, Ngài làm Đường đầu Hòa thượng Đại Giới đàn chùa Tam Bảo – Hà Tiên.

Độ chúng đệ tử:

Trong thời gian hơn 60 năm thi hành Phật sự, Hòa thượng đã Quy y Tam bảo cho hàng trăm Phật tử hữu duyên, và hơn 20 Tăng Ni xuất gia, trở thành Pháp khí cho Đạo pháp, góp phần phát triển Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ, làm cho Tổ ấn quang huy, chúng sanh lợi lạc, tốt đời đẹp đạo như:

+ Về Chư Tăng:

−HT. Hồng Pháp, hiệu Thiện Minh

−HT. Hồng Diệu, hiệu Thiện Đạo

−HT. Hồng Nhơn, hiệu Từ Nhẫn

−HT. Hồng Tôi, hiệu Thiện Tường

−HT. Hồng Xứng, hiệu Thiện Quang

−HT. Hồng Mão, hiệu Thiện Tâm

−HT. Hồng Nở, hiệu Thiện Hoa, tự Hoàn Tuyên

−HT. Hồng Minh, hiệu Từ Hội (HT. Pháp Long)

−HT. Hồng Tòng, hiệu Thiện Tòng, tự Phổ Quảng

−HT. Hồng Chương, hiệu Trí Đức (Y chỉ)

−HT. Hồng Trung, hiệu Thiện Tín (HT. Huệ Hải)

+ Về Chư Ni:

−NS. Hồng Từ, hiệu Diệu Nga

−NS. Hồng Trung, hiệu Diệu Hậu

−NS. Hồng Thọ, hiệu Diệu Tịnh

−NS. Hồng Lầu, hiệu Diệu Tấn

−NS. Hồng Tích, hiệu Diệu Kim

−NS. Hồng Quý, hiệu Bửu Thanh

−NS. Hồng Khoái, hiệu Bửu Chí

−NS. Hồng Đắc…

Năm Quý Dậu (1933), Ngài thọ bệnh và trước khi viên tịch Ngài chắp tay niệm lớn: "Nhất niệm viên quang tội tánh không, đẳng đồng Pháp giới hàm thanh tịnh”. Niệm xong Ngài an nhiên viên tịch vào ngày 15 tháng 2 năm Quý Dậu. Trụ thế 73 năm và 52 mùa an cư kiết hạ.

Nhục thân Hòa thượng được nhập tháp trong khuôn viên chùa Phi Lai, thị trấn Chi Lăng, huyện Tịnh Biên, Châu Đốc.

Thế rồi, dù thời gian có đi qua, không gian có biến dịch, song công đức và Đạo hạnh của Hòa thượng vẫn sống mãi trong tâm tư Tăng Ni, Phật tử Việt Nam và trang sử vàng son của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.

Nam mô Phi Lai đường thượng Từ Lâm Tế Gia Phổ, tam thập cửu thế, Pháp húy Như Hiển, hiệu Chí Thiền, Nguyễn Công Hòa thượng Tổ sư tác đại chứng minh. 

Gửi bài viết phản hồi

No captcha image